Giải đáp pháp luật. Hai bên nam, nữ ký vào giấy chứng thực thành hôn và sổ đăng ký hôn phối, chủ toạ UBND cấp xã (phường) ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một bản chính giấy chứng thực thành hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Thủ tục kết hôn, được quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch như sau: Khi đăng ký thành hôn, hai bên nam, nữ phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định) và xuất trình giấy chứng minh nhân dân.
Bản sao giấy chứng thực thành thân được cấp theo đề nghị của vợ, chồng. Việc công nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày công nhận. Đáp: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Mục II Thông tư số 01/2008/TT-BTP, hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch do Bộ Tư pháp ban hành, thì đối với những đối tượng du học trò được giải quyết như những trường hợp công dân Việt Nam hàm trong nước kết hôn với nhau.
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy má hợp thức, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện thành hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, thì UBND cấp xã đăng ký thành thân cho hai bên nam, nữ.
Việc công nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể công nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký thành hôn hoặc bằng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Chương V của nghị định này. Khi đăng ký thành hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. D) Đối với những người đã qua nhiều nơi hàm khác nhau (kể cả thời gian trú ngụ ở nước ngoài), mà UBND cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời kì trước khi về trú ngụ tại địa phương và chịu nghĩa vụ về việc đoan”.
Cụ thể: “. Trong trường hợp cần phải xác minh, thì hạn vận nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày. Đại diện UBND cấp xã (phường) đề nghị hai bên cho biết ý muốn tự nguyện thành hôn, nếu hai bên đồng ý thành thân, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận thành thân.
Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này, nhưng đăng ký thành hôn tại xã, phường, thị trấn khác, thì phải có công nhận của ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét