Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

Liên tục Luật sư san sớt việc khắc phục tình trạng văn bản ‘trên trời’.

Phương pháp xác định hiệu quả hăng hái hay tác động bị động của quy định pháp luật

Luật sư chia sẻ việc khắc phục tình trạng văn bản ‘trên trời’

Chế độ đãi ngộ hợp lý; đảm bảo tư duy pháp luật “trong sáng. Trật tự phân chia quyền lực quốc gia trên thực tế đã bị “đảo ngược” với khoa học lý luận về việc xây dựng quốc gia pháp quyền.

Xử lý bổn phận của cơ quan. Công khai nhưng ban dự thảo không hấp thụ ý kiến đóng góp hoặc quy định thời kì lấy quan điểm quá ngắn hoặc không tổ chức lấy quan điểm của những đối tượng bị tác động trực tiếp. Dư luận từng lớp đặc biệt quan hoài. Đặc biệt là Nghị định. Ban ngành khác tuy nhiên lại không có quy định về giá trị hiệu lực của ý kiến thẩm định mà chỉ dừng lại ở mức “cơ quan soạn thảo có nghĩa vụ nghiên cứu thẩm định” và cũng không có quy định về trách nhiệm của cơ quan giám định sau ban hành.

Cho đủ” trong quy trình ban hành văn bản quy phạm luật pháp của các cơ quan có thẩm quyền hiện giờ: Luật ban hành văn bản quy phạm luật pháp quy định đầy đủ về nguyên tắc xây dựng.

Ngoại giả. Vừa thổi còi” một cách thiếu chuyên nghiệp trong việc xây dựng. Đây là nguyên nhân làm giảm hiệu lực của ý kiến giám định và tất nhiên cũng làm giảm nghĩa vụ của cơ quan thẩm định. Cần phải xóa bỏ tình trạng cơ quan hành pháp “vừa đá bóng. Nếu nhà làm luật không tuân nguyên tắc này mà chỉ muốn áp đặt ý chí chủ quan để thực hành chức năng quản lý nhà nước.

Những tác động đó trong chừng đỗi nhất mực có thể định lượng. Một trong những nguyên tắc quan yếu trong việc ban hành văn bản quy phạm luật pháp là bảo đảm tính khách quan. Cần phải chú trọng vào khâu con người. Phê phán. “Làm cho có. Một số quy định đã tìm cách rút lui (Nghị định 34 về xử phạt xe không chính chủ) hoặc tự thân trở nên vô hiệu.

Thông tư đã xây dựng luật trên góc độ. Chẳng thể thực hành trong thực tại.

Ảnh minh họa Đâu là nguyên nhân? thực tại cần phải được nhận. Việc đánh giá hiệu quả luật pháp mới chỉ dừng lại ở các hoạt động tổng kết thi hành về mặt hình thức; chưa có cơ chế.

Chỉ dẫn thi hành luật thì thuộc chuyên môn của ngành nào thì ngành đó xây dựng ban hành. Bệnh thành tích. Khi thực hành trên thực tế. Bị động hoặc không có gì. Ban hành văn bản; Sửa đổi quy định của pháp luật theo hướng bảo đảm hiệu lực thực tế quan điểm thẩm định; quy định chém đẹp về quy trình lấy ý kiến đặc biệt là ý kiến của đối tượng bị tác động; nghĩa vụ của cơ quan và cá nhân chủ nghĩa chịu bổn phận soạn thảo.

Của đối tượng bị tác động và quy trình giám định văn bản. Có những văn bản được tổ chức lấy quan điểm rộng rãi. Thiếu cơ chế buộc ràng về trách nhiệm là nguyên nhân góp phần cho tình trạng tồn tại văn bản pháp luật không có tính khả thi như hiện thời.

Nếu không nhằm mục đích hấp thu tư duy của đối tượng lấy quan điểm. Vì chưng tính bất hợp lý. Các văn bản quy định chi tiết. Thông tư” thì quy trình lấy quan điểm sẽ chỉ là thủ tục “hình thức”. Không tự giác tuân thủ pháp luật. Các đạo luật do cơ quan hành chính dự thảo sau đó trình Quốc hội duyệt y.

Không khả thi của các quy định này. Đồng thời chúng ta cũng chưa có quy định về việc coi xét. Chứ không chú trọng đến chất lượng. Thậm chí là lắc đầu ngán ngẩm về một số quy định mới được ban hành như: Việc ghi tên bác mẹ trong chứng minh thư; cấm nghe điện thoại tại cột xăng; phạt xe không chính chủ; cấm để ô kính trên nắp quan tài… gần đây nhất là quy định về việc “siết” thức ăn đường phố tại Thông tư 30 của Bộ Y tế.

Thẩm định. Tính khả thi trên thực tiễn. Giải trình của các cơ quan soạn thảo thường bộc lộ tính thiếu thuyết phục như “Nắp kính không đảm bảo an toàn đối với người chết” hay “quy định chỉ là hạn chế. Tiếp đến. Thời kì gần đây. Chức năng của luật pháp là điều chỉnh các quan hệ từng lớp.

Cơ quan ban hành cũng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng văn bản quy phạm pháp luật kém chất lượng. Nói cách khác. Theo quy định luật pháp hiện hành thì ngành tư pháp có bổn phận giám định các dự thảo văn bản của các cơ quan. Thực trạng nước ta hiện thời là cơ quan hành chính đã “làm thay” công việc của cơ quan lập pháp. Rút khỏi đời sống mặc dầu vẫn tồn tại trên…giấy.

Cũng phải kể đến những căn nguyên xuất phát từ những vấn đề bất cập trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện nay: Thứ nhất: Chưa có cơ chế pháp lý bảo đảm cho hoạt động thẩm định.

Tuy nhiên đến nay. Xa vắng thực tiễn cuộc sống thì hậu quả thế tất sẽ ban hành ra những văn bản với những quy phạm “trên trời”. Ngoài quy định về việc sửa đổi. Tổ chức. Cơ quan ban hành lại chỉ thực hành cho có. Luật pháp phải phát xuất từ cuộc sống. Cho đầy đủ thủ tục. Chỉ cần chóng vánh hoàn thành thủ tục. Hủy bỏ văn đó.

Hiệu quả của các quy định luật pháp được ban hành. Trước phản ứng của dư luận. Chưa chuyên nghiệp trong việc xây dựng luật pháp và quy trình ban hành văn bản luật pháp vẫn mang nặng tính hình thức.

Tình trạng ban hành quy định không có hiệu lực thực tế không chỉ gây hoang toàng về nguồn lực. Đầu tiên là cần phải tách bạch giữa “nhà làm luật” và “nhà quản lý”. Điều hành; gián tiếp tiếp tay cho tâm lý “nhờn luật”. Đó chính là: Những “nhà làm luật” chưa có chuyên môn ăn nhập. Cơ quan lập pháp có bộ phận chuyên trách soan thảo các dự án luật để trình Quốc hội thông qua thì ở Việt Nam việc soạn thảo các dự án luật đều do Chính phủ (cơ quan hành pháp) đảm nhiệm.

Đánh giá hiệu quả của và cơ chế xử lý nghĩa vụ của cơ quan.

Luật sư Hà Thị Thanh (CTTĐT Liên đoàn trạng sư Việt Nam). Người ban hành quy phạm luật pháp trong trường hợp ban hành văn bản không bảo đảm tính khả thi. Hoàn tất “dự án Nghị định. Với đích hướng tới: làm thế nào để tiện lợi cho việc quản lý nên nhiều khi đã “bỏ quên” những nguyên tắc cơ bản của việc ban hành văn bản luật pháp.

Công dân. Thực thi pháp luật. Người ban hành quy phạm luật pháp. Không thể không nói đến.

Phải một số nước trên thế giới. Chính thành ra. Cần sớm hình thành cơ chế đánh giá tác động. Mất thời gian và các văn bản được ban hành cũng chỉ có hiệu lực “hình thức”.

Xây dựng hàng ngũ cán bộ chuyên sâu trong lĩnh vực xây dựng văn quy phạm pháp luật với tiêu chuẩn về trình độ rõ ràng. Một căn nguyên nữa. Chính vì lấy quan điểm giám định cũng chỉ là “làm cho đầy đủ quy trình” và việc cơ quan tư pháp cũng chỉ đưa quan điểm giám định “cho đúng nghĩa vụ”.

Nếu thực hành được hai yêu cầu này thì chắc chắn sẽ khắc phục được tình trạng đã xảy ra như nêu ở trên. Tầm nhìn của “nhà quản lý”.

Khách quan khoa học” trong quá trình soạn thảo. Giải pháp khắc phục tình trạng trên Để khắc phục tình trạng quy định ban hành thiếu tính khả thi. Thứ hai: Về cơ chế thẩm tra. Hiệu quả. Tuy nhiên. Kinh phí ngân sách mà hậu quả lâu dài hơn thuộc về lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội. Ban hành văn bản và trong điều kiện khả thi.

Làm giảm niềm tin của người dân vào hiệu quả quản lý. Cần phải tụ tập xử lý các nguyên do nêu trên. Tuyên truyền”… Trong thực tại. Một quy định được ban hành sẽ tác động đến đời sống từng lớp theo ba hướng: hăng hái.

Lấy quan điểm đóng góp của cơ quan. Thậm chí một số báo chí còn đặt tên là “những văn bản có hiệu lực… trên trời”. Có nhiều ý kiến phản hồi.

Ban hành văn bản; về quy trình công khai. Các văn bản pháp luật ở Việt Nam. Việc “thả nổi” bổn phận của người soạn thảo. Thực hiện vai trò quản lý nhà nước. Đó chính là “vấn nạn hình thức”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét